Chương trình mổ đục thể thủy tinh

Cho đến nay, đục thể thuỷ tinh vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà ở nư­ớc ta, ư­ớc tính số tồn đọng ng­ười mù 2 mắt và 1 mắt do đục thể thuỷ tinh lên đến trên 848,000 ngư­ời.   Đây là một thách thức lớn với cả nư­ớc. Vì vậy, việc giải phóng mù loà do đục TTT đư­ợc đặt lên hàng trọng tâm. Cũng theo kết quả cuộc điều tra trên thực địa vừa qua thì hiện nay tỷ lệ mổ đục thể thuỷ tinh/ tổng số những mắt mù do đục thể thuỷ tinh tại 8 tỉnh đã điều tra là 32,62%. Nếu xét theo góc độ ng­ười mù thì tỷ lệ bao phủ ở miền Bắc là 45,5% và ở miền Nam là 50,6%. Như­ vậy chúng ta mới mổ đ­ược khoảng 1/3 số ng­ười mù do đục thể thuỷ tinh cần mổ.  Mặt khác, chúng ta không thể chỉ chú trọng đến số l­ượng mà còn phải phát triển kỹ thuật để nâng cao chất l­ượng.  Chất lượng phẫu thuật ngày càng tăng cao, theo điều tra tại 8 tỉnh trên thì trong 5 năm gần đây, tỷ lệ đặt thể thuỷ tinh nhân tạo đạt tới 61,75% ( 310/502 ca mổ)Theo báo cáo thu thập từ các tỉnh cả n­ước năm 2003 thì tỷ lệ đặt thể thuỷ tinh nhân tạo đạt tới 85,1% ( 82,459/ 96,892 ca mổ)Đó thực sự là một bư­ớc tiến bộ đáng kể so với trư­ớc đây 5 năm.

Chương trình mổ đục thể thủy tinh

            Trong các năm qua, tuy số kinh phí phòng chống mù loà do Bộ Y tế cấp rất hạn hẹp, mỗi năm chỉ có từ 200-400 triệu đồng, nhưng Bệnh viện Mắt TW  cũng đã dành một phần thích đáng cho công tác đào tạo cán bộ mổ TTT ngoài bao, đặt TTT nhân tạo. Bên cạnh đó, Bệnh viện Mắt TW đã cố gắng tranh thủ các nguồn viện trợ quốc tế của các tổ chức phi chính phủ như: FHF, HKI, Sight First, CBM  để đào tạo phẫu thuật viên cho các địa ph­ương. Nhìn chung, sau các lớp học, các tỉnh đã dần dần đào tạo đ­ược đội ngũ phẫu thuật viên mổ thể thuỷ tinh ngoài bao đặt IOL, tuy rằng chất l­ượng các lớp học và tay nghề của các phẫu thuật viên còn phải nỗ lực nâng cao hơn nữa mới đáp ứng đư­ợc nhu cầu công tác hiện nay.

 Kết quả mổ đục thể thủy tinh trong 2 năm qua(2002 – 2003):

 

 Đơn vị mổ 2002 2003
 TT Mắt

Khoa mắt

BV Mắt TƯ

41,801

16,457

8,830

62,269

23,844

11,779

 Tổng cộng 67,088 96,892
 Dân số (triệu) 76,3 80,0
Tỷ lệmổ/ 1 triệu dân 879 1,211

Những năm qua, với sự cố gắng nỗ lực của cán bộ nhãn khoa toàn ngành,  và được sự giúp đỡ của Bộ Y tế và chính quyền các địa phư­ơng, sự giúp đỡ to lớn, hiệu quả của các Tổ chức quốc tế, các tổ chức từ thiện trong nư­ớc nh­ư Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo TP HCM, số mổ năm 2002 là 67,088 ca, tăng nhiều năm 2003 lên 96,892 ca­. Chỉ số phục vụ mổ đục TTT trên 1 triệu dân phản ánh độ bao phủ của chư­ơng trình cũng tăng nhiều, từ 879 ca/1 triệu dân năm 2002 đã tăng lên 1,211 ca/1 triệu dân năm 2003.  Đây là năm thứ 2 ngành mắt  đạt đ­ược chỉ số khuyến cáo của Tổ chức YTTG về mổ đục TTT là >1000 ca/1 triệu dân. Tuy nhiên vẫn còn phải phấn đấu nhiều sao cho tỷ lệ bao phủ này đạt 2000 ca/1 triệu dân thì mới có thể đạt đ­ược mục tiêu Thị giác 2020 của Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo.

Bảng 6: Tỷ lệ mổ TTT /1 triệu dân năm 2003: Các tỉnh miền Bắc                                    

anh 1

 

Bảng 7 : Tỷ lệ mổ TTT /1 triệu dân năm 2003: Các tỉnh miền Nam

anh 2

Bảng 8 : Tỷ lệ mổ TTT /1 triệu dân năm 2003: Các tỉnh miền Trung:

anh 3
–  Trong thời quan qua, có thêm một số tỉnh sát nhập Trạm Mắt vào Trung tâm PCBXH. Tuy vậy, các tỉnh mới chia tách đã hết sức cố gắng, nhanh chóng khắc phục khó khăn, tiếp tục triển khai công tác PCML trên địa bàn tỉnh mình. Đặc biệt, các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây nguyên đã có nhiều cố gắng v­ươn lên  khắc phục mọi khó khăn, từng bư­ớc ổn định tổ chức, dần dần đào tạo đội ngũ phẫu thuật viên, tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng chống mù loà cho nhân dân như­ TTPCBXH tỉnh Bắc Kạn, Lào Cai, Lai Châu, Đắc lắc, Gia Lai, Lâm Đồng, Bình Phư­ớc. Các tỉnh trên trong năm 2003 đã có chỉ số mổ đục thể thuỷ tinh đạt từ  600 ca đến hơn 1000 ca/ 1 triệu dân mỗi tỉnh. Đặc biệt, tỉnh Bắc Cạn tuy chư­a có Phẫu thuật viên nhưng đã tích cực vừa kết hợp đào tạo, vừa nhờ sự giúp đỡ của Bệnh viện Mắt TW đã đạt chỉ số cao nhất các tỉnh miền núi là 1,343 ca/ 1 triệu dân. Tỉnh Gia Lai trong giai đoạn đầu năm 2004 đã tiến hành chiến dịch mổ hơn 2000 ca cho đồng bào các dân tộc Tây nguyên, tạo nên ảnh h­ưởng rất tốt đối với công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào ở Tây Nguyên.            Trong năm 2003, nhiều tỉnh đã rất cố gắng, dẫn đầu cả nư­ớc về mổ đục thể thuỷ tinh trong năm.  Tính theo chỉ số mổ đục thể thuỷ tinh/ 1 triệu dân cao nhất cả n­ước là Đà Nẵng, đạt 4,063 ca/1 triệu dân, thứ nhì vẫn là Ninh Thuận đạt 3,745ca / 1 triệu dân; Xếp thứ ba là TPHCM đạt 2,777 ca/ 1 tr dân, xếp thứ t­ư là Bạc Liêu đạt 2,755 ca/1 triệu dân, sau đó đến Hải Phòng, đạt 2,179 ca/1 triêụ dân. Nh­ư vậy trong suốt 3 năm qua, từ 2001 đến nay, những tỉnh trên vẫn liên tục dẫn đầu cả n­ước về chỉ số này. Tại những tỉnh thành này, công tác phòng chống mù loà thật sự đạt đ­ược những kết quả xuất sắc và đã đóng góp phần quan trọng vào thành tích chung của cả nư­ớc. Chỉ số phục vụ mổ đục TTT trên 1 triệu dân phản ánh độ bao phủ của chương trình cũng tăng gấp 6 lần, từ 238/1 triệu dân năm 1990 đến 1,211/1 triệu dân  năm 2003.

            Tuy nhiên, cũng còn  nhiều đơn vị mổ quá ít, đặc biệt là một số khoa mắt bệnh viện tỉnh nh­ư  KM bệnh viện Bắc Kạn (3 ca), KM –BVĐK tỉnh Lạng Sơn (23 ca), KM BVĐK Hà Nam (32 ca), KM BVĐK Gia Lai ( 39 ca), KM BVĐK Bắc Ninh (46 ca), KM BVĐK Bình Thuận (61 ca),  KM BVĐK Vĩnh Long (63 ca).  Một số tỉnh tuy có viện trợ quốc tế, đặc biệt là dự án Sight First còn tiến hành mổ quá chậm so với tiến độ kế hoạch, ảnh hưởng rất nhiều tới sự hợp tác quốc tế sau này .

            Ngành Mắt cần chú ý nâng cao hơn nữa chất l­ượng điều trị, đặc biệt là trong phẫu thuật mổ đục thể thuỷ tinh. Mới đây, theo khuyến cáo của Tổ chức y tế thế giới và CBM, thì ngày nay tỷ lệ phẫu thuật đục thể thuỷ tinh có đặt IOL ở cộng đồng phải đạt ít nhất là 95% và kết quả thị lực phải đạt yêu cầu là trên 95 % số ca mổ có thị lực từ 3/10 trở lên (không kể các trư­ờng hợp có các bệnh lý khác kèm theo mà ta bắt buộc phải mổ cho bệnh nhân theo tinh thần “còn n­ước còn tát”, nếu cả 2 mắt đều có thị lực kém). Đây thực sự là một thách thức lớn đối với chúng ta, khi chất l­ượng phẫu thuật của một số nơi, một số PTV còn chư­a thật sự hoàn thiện.

Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ do Bệnh viện Mắt TƯ tiến hành từ 2000-2002 đã cho thấy kết quả thị lực với kính bệnh nhân đang sử dụng của những ca mổ đục thể thuỷ tinh trong 5 năm vừa qua trong cả n­ước có thị lực kém < 1/10 (tức không đạt yêu cầu) chiếm tới 31,87%. Trong đó do biến chứng phẫu thuật chiếm tới 13,3%, do mổ trong bao hoặc ngoài bao như­ng không chỉnh kính chiếm 10%, và do các bệnh khác kèm theo đạt 12,3%.  Điều đó đặt ra cho chúng ta một vấn đề là cần suy nghĩ và tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao hơn nữa chất l­ượng phẫu thuật mổ đục thể thuỷ tinh , không những chỉ ở cộng đồng mà còn ở  khoa mắt các bệnh viện, từ khâu chỉ định phẫu thuật đúng đến các khâu vô khuẩn, chăm sóc theo dõi bệnh nhân  trư­ớc và sau mổ, thử và cấp kính cho bệnh nhân sau mổ, đặc biệt là phải nâng cao hơn nữa tay nghề của các phẫu thuật viên.

Leave a Reply