Kết quả lâu dài phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh (139 mắt) bằng siêu âm phối hợp đặt thể thuỷ tinh nhân tạo qua đường rạch giác mạc bậc thang phía thái dương tại Hải Phòng

Chúng tôi thông báo kết quả lâu dài của 139 mắt mổ đục thể thuỷ tinh bằng phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh tại Hải Phòng từ tháng 11/2001 đến tháng 3/2003 với thời gian theo dõi sau mổ 6 tháng. Kết quả: 1. Thị lực: sau mổ 1 tuần chưa chỉnh kính là 0,67 ± 0,19, trong đó thị lực ≥ 5/10 chiếm 87,76%. Thị lực sau mổ 6 tháng chưa chỉnh kính là 0,8 ± 0,16, trong đó thị lực ≥ 5/10 chiếm 96,75%. 2. Loạn thị: Loạn thị giác mạc do PT (K2) là thấp và ổn định sớm. K2 sau mổ 1 tuần là 0,789dp, 6 tháng là 0,473dp. 3. Nhãn áp: sau phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh, nhãn áp hạ thấp một cách đáng kể so với trước mổ, sau mổ 1 tuần hạ 1,401mmHg, 6 tháng hạ 1,840mmHg. 4. Biến chứng trong và sau mổ: thấp, không đáng kể.

Phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh (TNTTT) được áp dụng lần đầu tiên trên thế giới từ năm 1967 bởi KELMAN. Với vết mổ nhỏ, lành sẹo nhanh, độ loạn thị phát sinh do phẫu thuật thấp, thị lực phục hồi nhanh và cao sau phẫu thuật, ngày nay phẫu thuật TNTTT đang là phẫu thuật thịnh hành nhất và hiện đại nhất trên toàn thế giới.

Ở Việt Nam, phẫu thuật TNTTT bắt đầu được áp dụng năm 1995, hiện nay phẫu thuật này đã phát triển ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đặc biệt là ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh.

Ở Hải Phòng, chúng tôi bắt đầu áp dụng phẫu thuật TNTTT trong điều trị bệnh đục thể thuỷ tinh từ tháng 3/2000. Kết quả bước đầu của phẫu thuật chúng tôi đã thông báo trong Nội san nhãn khoa, số 8, 2002. Để nghiên cứu đánh giá kết quả lâu dài của phẫu thuật chúng tôi đã theo dõi trên 139 mắt mổ đục thể thuỷ tinh bằng phương pháp TNTTT bằng siêu âm phối hợp đặt thể thuỷ tinh nhân tạo qua đường rạch giác mạc bậc thang phía thái dương từ 11/2001 đén 3/2003 tại khoa mắt bệnh viện Đa khoa Việt Tiệp Hải Phòng.

         Mục đích của đề tài:

–        Đánh giá kết quả lâu dài của phẫu thuật về thị lực, nhãn áp, độ loạn thị phát sinh do phẫu thuật.

–        Đánh giá các biến chứng trong và sau mổ.

–        Rút ra một vài kinh nghiệm.

 

         ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

  1. Đối tượng nghiên cứu:

Tất cả những bệnh nhân được mổ thể thuỷ tinh bằng phương pháp tán nhuyễn thể thuỷ tinh bằng siêu âm phối hợp đặt thể thuỷ tinh nhân tạo mềm qua đường rạch giác mạc bậc thang phía thái dương, có điều kiện theo dõi lâu dài sau phẫu thuật, không có chọn lọc.

Tất cả các bệnh nhân đều được khám, làm xét nghiệm trước mổ, chẩn đoán và chỉ định phẫu thuật. Sau phẫu thuật bệnh nhân được theo dõi 6 tháng.

 

  1. Phương tiện nghiên cứu:

+       Bảng thị lực chữ cái Snellen.

+       Nhãn áp kế Maclakop 10g

+       Kính hiển vi phẫu thuật

+       Máy soi đáy mắt, kính volk 900.

+       Máy siêu âm AB, máy đo khúc xạ, đo công suất giác mạc tự động.

         Phương tiện phẫu thuật:

+       Kính hiển vi phẫu thuật Moller, đồng trục với bộ điều khiển bằng chân kiểu zeiss.

+       Máy tán nhuyễn thể thuỷ tinh Universal II. Alcon laboratoire.

+       Bộ dụng cụ mổ.

         Phương pháp phẫu thuật:

+       Chuẩn bị bệnh nhân trước phẫu thuật.

–        Cho uống thuốc hạ nhãn áp trước 2 giờ.

–        Nhỏ thuốc giãn đồng tử tối đa.

–        Gây tê hậu nhãn cầu bằng Xylocain 2% phối hợp octocain và Hyaza     180 đv.

–        Phẫu thuật: Mở đường hầm giác mạc bậc thang phía thái dương 3,2 mm, bơm chất nhầy, xé bao hình tròn khoảng 4,5 – 6mm, phaco lõi nhân theo 4 phương pháp, rưả hút hết chất nhân, bơm chất nhầy lần II, đặt IOL mềm trong bao, rửa hút hết chất nhầy, bơm phù giác mạc tái tạo tiền phòng, tiêm Gentamyxin  + Dexamethazon dưới kết mạc.

         Theo dõi săn sóc hậu phẫu:

Khám lại bệnh nhân vào các ngày thứ nhất, thứ 3, 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng sau phẫu thuật

 

KẾT QUẢ

  1. Một số đặc điểm về bệnh nhân trước phẫu thuật:

Tổng số mắt được mổ:  139

Số lượng bệnh nhân mổ: 128, trong đó có 11 bệnh nhân mổ 2 mắt.

 

1.1    Tuổi:

Tuổi trung bình: 67, 94 tuổi ± 12,90, thấp nhất: 18, cao nhất: 89.

1.2.   Giới:

Nam 48 bệnh nhân: 37,5%

Nữ 80 bệnh nhân: 62,5%

1.3.   Mắt phẫu thuật:

Mắt phải : 68: 48,9%

Mắt trái   : 71: 51,1%

 

1.4.   Trục nhãn cầu trung bình:

23,529mm  ± 2,413

Thấp nhất: 20,89mm, cao nhất: 34,56mm.

1.5.   Công suất thể thuỷ tinh nhân tạo trung bình.

20,001 dp ± 5,727

Thấp nhất: -4dp; cao nhất: 28,00 dp.

 

  1. Phân loại bệnh nhân theo tuổi:

Bảng 1: Phân loại bệnh nhân theo tuổi

Tuổi <50 50-59 60-69 70-79 ³80 TS
Nam 7 11 9 17 4 48
Nữ 4 4 15 44 13 80
TS 11 15 24 61 17 128
% 7.91% 10.79% 17.26% 43.88% 12.23% 100%

 

  1. Phân loại theo hình thái đục thể thuỷ tinh:

Bàng 2  Phân loại theo hình thái đục thể thuỷ tinh

Hình thái đục thể thuỷ tinh Số mắt

Tỷ lệ %

Đục nhân và lớp vỏ (cortico – nucleaire) 73 52,51%
Đục nhân chín trắng (cataracte mure) 27 19,42%
Đục nhân chín trắng, nhân trương (cataracte intumescente) 9 6,47%
Đục dưới vỏ bao cao sau/ ± đục nhân 21 15,10%
Đục thể thuỷ tinh bệnh lý 6 4,31%
Đục thể thuỷ tinh giả tróc mảng 3 2,16%
TS 139 100%

 

Cũng như các tác giả khác, đa số bệnh nhân của chúng tôi là đục T3  ở hình thái đục nhân và lớp vỏ (cortico nucléaire) chiếm tỷ lệ 52,51%, tuy nhiên hình thái đục thể thuỷ tinh nhân chín trắng, nhân trướng cũng gặp với tỷ lệ cao 25.89%, đặc biệt là hình thái đục thể thuỷ tinh nhân trương trên người trẻ cũng hay gặp.

 

  1. Phân loại theo độ cứng của nhân thể thuỷ tinh:

Bảng 3: Phân loại theo độ cứng của nhân thể thuỷ tinh

Mức độ đục TTT Số mắt

Tỷ lệ

Độ I 10 7,19
Độ II 11 7,91
Độ III 69 49,64
Độ IV 43 30,93
Độ V 06 4,31

 

  1. Các bệnh toàn thân và tại mắt phối hợp:

Bảng 4: Các bệnh toàn thân và tại mắt phối hợp.

Bệnh toàn thân và tại mắt Số bệnh nhân/số mắt

Tỷ lệ %

Cao huyết áp 42 30.29 %
Đái tháo đường 3 2,15 %
Viêm thận mạn 2 1,43 %
Cận thị nặng 13 9,35 %
Mộng độ I 10 7,19 %
Đã mổ cắt bè – cắt m2 chu biên 4 2,87 %
Sẹo giác mạc mỏng 3 2,15 %
Glôcôm góc mở đ/c = thuốc 2 1,43 %
Thoái hoá sắc tố võng mạc 1 0,71 %
Rung giật nhãn cầu, lác trong 1 0,71 %

 

  1. Các kỹ thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh:

Chúng tôi sử dụng 4 kỹ thuật phaco tuỳ theo mức độ đục thể thuỷ tinh.

Bảng 5: Các kỹ thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh

Kỹ thuật

Divide and conquer Stop and chop Phaco chop Quick chop I/A max TS
Số mắt 11

(7,91%)

92 (66,18%) 20

(14,38%)

14 (10,07%) 2

(1,43%)

139 (100%)
Độ đục TTT Độ I-II III-IV IV-V II-IV I

 

 

 

  1. Thị lực trước mổ:

Bảng 6: Thị lực trước mổ

Thị lực ST(+), HAS ĐNT£ 3m £ 1/10 2/10 3/10 TS
Số mắt 38 81 13 3 4 139
% 27,33% 58,27% 9,35% 2,15% 2,87% 100%

 

  1. Nhãn áp trước mổ:

Nhãn áp trung bình là 18,609mmHg ±2,013. Nhãn áp thấp nhất là 16, cao nhất là 25mmHg.

Một mắt glôcôm do đục thể thuỷ tinh trương phồng có NA trước mổ là 25mmHg (Sau khi đã uống Diuramit)

 

  1. Thời gian phẫu thuật:

Thời gian trung bình: 2,237′ ± 1,093  (Thấp nhất: 00’, Cao nhất: 6,5’)

Thời gian phẫu thuật cho độ I, độ II, độ III là 1,689’ ± 0,843, còn thời gian phẫu thuật cho độ IV, độ V là 2,692 ± 1,072.

Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với  P < 0,001.

  1. Biến chứng trong phẫu thuật:

Bảng 7: Biến chứng trong phẫu thuật

Biến chứng trong phẫu thuật

Số mắt

Tỷ lệ

Thủng bao sau có thoát DK 2 1,43%
Thủng bao sau không thoát DK 1 0,71%
Chấn thương mống mắt 2 1,43%
Bỏng vết mổ 2 1,43%

 

  1. Biến chứng sau phẫu thuật:

Bảng 8: Biến chứng sau phẫu thuật

Biến chứng sau phẫu thuật

Số mắt

Tỷ lệ

Viêm giác mạc khía 14 10%
Tăng nhãn áp 1 0,7%
Phản ứng viêm màng bồ đào 0 0%
Mất sắc tố mống mắt 2 1,43%
Đục bao sau 1 0,71%
Dò vết mổ 0 0

 

Qua hai bảng trên (Bảng 7-8) chúng ta thấy tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật là rất thấp, không đáng kể. Mà những biến chứng này chủ yếu gặp ở thời kỳ đầu mới tiến hành mổ phaco còn ở giai đoạn sau thì hầu như không gặp.  Viêm giác mạc khía gặp ở 14 mắt (10%), thường là những mắt có nhân đục độ IV, V do thời gian Phaco kéo dài và do phải đặt ở mức nặng lượng phaco cao (power 60-70%). Tuy nhiên phù giác mạc trung tâm này mất đi rất nhanh với điều trị bằng thuốc. Nhãn áp tăng kéo dài sau phẫu thuật 7 ngày ở 1 mắt có thủng bao sau thoát dịch kính nhẹ, chúng tôi xử lý tốt, vẫn đặt thể thuỷ tinh nhân tạo mềm trong bao.Tuy nhiên do thì rửa hút chất nhầy sau phẫu thuật không được tốt nên nhãn áp tăng sau phẫu thuật. Điều trị nội khoa kết quả tốt sau 7 ngày.

 

  1. Kết quả sau phẫu thuật:

12.1. Thị lực sau mổ.

12.1.1. Thị lực sau mổ một tuần chưa chỉnh kính:

Thị lực sau mổ một tuần chưa chỉnh kính trung bình là 0,67 ± 0,19. Thể hiện trên bảng sau:

 

Bảng 9: Thị lực sau mổ một tuần chưa chỉnh kính

TL sau mổ

1 tuần

ĐNT 2m 1/10 2/10 3/10 4/10 5/10 6/10 7/10 8/10 9/10 10/10
Số mắt 1 1 3 4 8 21 24 29 27 11 10
Tỷ lệ % 0,71 0,71 2,15 2,87 5,75 15,10 17,26 20.86 19,42 7,91 7,19
  12,23% 87,76%

 

Như vậy có 87,76% số bệnh nhân của chúng tôi có thị lực sau mổ ³ 5/10.

12.1.2. Thị lực sau mổ một tuần đã chỉnh kính.

Thị lực sau mổ một tuần đã chỉnh kính trung bình là 0,83 ± 0,18. Trong đó thị lực ³ 5/10 chiếm tỷ lệ 95,68%.

 

Bảng 10: Thị lực sau mổ một tuần đã chỉnh kính

TL sau mổ 1 tuần có kính ĐNT 2m 1/10 2/10 3/10 4/10 5/10 6/10 7/10 8/10 9/10 10/10
Số mắt 1 0 1 2 2 13 13 16 2 23 39
Tỷ lệ % 0,71 0 0,71 1,43 1,43 9,35 9,35 11,51 20,86 16,54 28,05
  4,31% 95,68%

 

12.1.3.Thị lực sau mổ 6 tháng chưa chỉnh kính.

Thị lực sau mổ 6 tháng chưa chỉnh kính trung bình là 0,80 ± 0,16  (n = 123). Trong đó thị lực ³ 5/10 chiếm tỷ lệ 96,75%.

 

 

Bảng 11: Thị lực sau mổ 6 tháng chưa chỉnh kính

TL sau mổ 6 tháng không kính 1/10 2/10 3/10 4/10 5/10 6/10 7/10 8/10 9/10 10/10
Số mắt 1 0 1 2 6 13 10 32 24 34
Tỷ lệ 0,8 0 0,81 1,62 4,87 10,56 8,13 26,01 19,51 27,64
  3,25% 96,75%

 

12.1.4.Thị lực sau mổ 6 tháng đã chỉnh kính.

Thị lực sau mổ 6 tháng đã chỉnh kính trung bình là 0,94 ±0,12 (n = 123). Trong đó thị lực ³ 5/10 chiếm tỷ lệ 97,6%.

Bảng 12Thị lực sau mổ 6 tháng đã chỉnh kính

TL sau mổ 6 tháng có kính 1/10 2/10 3/10 4/10 5/10 6/10 7/10 8/10 9/10 10/10 TS
Số mắt 1 0 1 1 0 6 7 11 29 67 123
12 0,81 0 0,81 0,81 0 4,87 5,69 8,94 23,57 54,47 100%
  2,44 97,56% 100%

 

12.2.    Độ loạn thị giác mạc.

12.2.1. Độ loạn thị giác mạc trước mổ (k1) trung bình là:

K1 = 1,070dp  ± 0,623 (n = 139)

Trong đó độ loạn thị giác mạc trước mổ nhỏ nhất là 0,00 dp và lớn nhất là 4,00 dp.

12.2.2. Độ loạn thị giác mạc sau mổ (K3):

Chúng tôi thống kê độ loạn thị giác mạc sau phẫu thuật (K3) trong bảng sau:

 

Bảng 13Độ loạn thị giác mạc sau mổ (K3):

Độ loạn thị 

GM sau mổ

Trung bình Sai số Min – max Số mắt (n)
K3 1 tuần 1,085 0,653 0,00-4,25 139
K3 1 tháng 1,075 0,588 0,15-4,00 139
K3 3 tháng 1,037 0,593 0,00 – 4,00 134
K3 6 tháng 1,033 0,581 0,00-4,00 122

 

Qua kết quả trên ta thấy độ loạn thị giác mạc sau mổ không thay đổi nhiều so với độ loạn thị giác mạc trước mổ và ổn định sớm.

12.2.3. Loạn thị phát sinh do phẫu thuật (K2):

Từ độ loạn thị giác mạc trước mổ (K1) và độ loạn thị giác mạc sau mổ (K3) chúng tôi đã tính toán được độ loạn thị do phẫu thuật (K2) theo phương pháp Vector. Phương pháp tính toán độ loạn thị giác mạc này đã được Jaffe N.S và Claymon H.M, mô tả chi tiết trong Trans. Am. Acad. Ophthalmology  and otolaryngology 1975, V 79, 615 – 630. Kết quả như sau:

 

Bảng 14: Loạn thị phát sinh do phẫu thuật (K2) :

Độ loạn thị do phẫu thuật (K2) Độ loạn thị

trung bình

Sai số của

số trung bình

Ecart typ

Số thống kê (n)
K2 1 tuần 0,789 ±0,586 0,075 – 3,750 139
K2 1 tháng 0,627 ±0,353 0,075-2,82 138
K 2 3 tháng 0,520 ±0,349 0,075-2,600 135
K2 6 tháng 0,516 ±0,305 0,075 – 2,050 122

 

Dùng T- test để so sánh độ loạn thị do phẫu thuật 3 tháng (K2 3 tháng) với độ loạn thị do phẫu thuật 6 tháng (K2 6 tháng) thì sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Như vậy độ loạn thị do phẫu thuật trong phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh với vết mổ 3,2mm là nhỏ và ổn định sớm.

12.3. Nhãn áp sau phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh:

Nhãn áp sau phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh hạ thấp một cách đáng kể so với nhãn áp trước phẫu thuật.

 

Bảng 15: Nhãn áp sau phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh

Nhãn áp sau mổ Trị số trung bình (mmHg) Sai số của

số trung bình

Nhãn áp nhỏ nhất – lớn nhất (mmHg) n
NA trước mổ 18,609 2,013 16-25 139
NA sau mổ 1 tuần 17,208 1,603 16-20 139
NA sau mổ 1 tháng 16,992 1,064 15-20 129
NA sau mổ 3 tháng 16,781 0,803 15-20 117
NA sau mổ 6 tháng 16,769 0,950 15-20 117

        

         Qua bảng trên ta thấy: So với nhãn áp trước mổ thì nhãn áp sau mổ hạ thấp được 1,401mmHg ở thời điểm 1 tuần sau mổ; 1,617mmHg ở thời điểm 1 tháng; 1,828mmHg ở thời điểm 3 tháng và 1,840mmHg ở thời điểm  6 tháng.

 

 

BÀN LUẬN

  1. Bàn luận về kết quả của phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh:

1.1.   Kết quả về thị lực:

Phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh bằng siêu âm phối hợp đặt thể thuỷ tinh nhân tạo qua đường rạch giác mạc bậc thang phía thái dương cho thị lực cao, thị lực phục hồi nhanh và ổn định lâu dài sau phẫu thuật.

So sánh kết quả về thị lực với các tác giả trong nước và ngoài nước đều cho thấy kết quả tương tự.

 

Bảng 16: Kết quả về thị lực theo các tác giả

Tác giả
Năm

nghiên cứu

Số mắt Thị lực TB Thời gian theo dõi % TL ³5/10

chưa chỉnh kính

Abhay vasavada 1998 60 6 tháng 98,3% ( ³6/10)
Trần Thị Phương Thu 2001 200 3 tháng 96,91% ( ³6/10)
Le buisson, L.laroche 1996 124 2 tháng 100%
Khúc Thị Nhụn 2003 139 0,8 ± 0,16 6 tháng 96,75%

 

1.2.   Kết quả về độ loạn thị:

Loạn thị do phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh bằng siêu âm qua đường rạch giác mạc bậc thang phía thái dương 3,2 mm là nhỏ, ổn định sớm và theo nhiều tác giả thì có thể coi đó là vết mổ trung tính  [3], độ loạn thị do phẫu thuật trung bình là khoảng 0,5 dp.

 

1.3.   Kết quả về nhãn áp:

Nhãn áp sau phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh bằng siêu âm qua đường rạch giác mạc bậc thang phía thái dương 3,2mm hạ thấp một cách đáng kể so với nhãn áp trước mổ (1,401mmHg ở thời điểm 1 tuần sau mổ và 1,840 mm Hg ở thời điểm 6 tháng sau mổ).

Mannes K,  Zeyen T [6] năm 2001 tiến hành nghiên cứu tiến cứu trên 30 mắt mổ phaco với đường rạch giác mạc bậc thang phía thái dương 3,2 mm và đã đưa ra kết luận: Sau mổ 01 tháng nhãn áp hạ so với trước mổ là 1,68 mmHg, sau 2 tháng nhãn áp hạ 2,8mmHg, sau 3 tháng là 3,42mmHg và sau 5 tháng nhãn áp hạ 3,36 mmHg.

So sánh với các tác giả nước ngoài thì kết quả của chúng tôi cũng gần tương tự:

 

Bảng: Sự hạ thấp nhãn áp sau phẫu thuật:

Tác giả
Năm

nghiên cứu

Số mắt Thời gian

theo dõi

NA hạ so với

trước mổ

Phương pháp đo
NANNE K., ZEYEN T 2001 30 5 tháng 3,36 mmHg Goldmann
MATSUMATRA và CS 1996 18 tháng 4 mmHg Goldmann
PERASALO 1997 102 12 tháng 1,8 mmHg
Khúc Thị Nhụn 2003 139 6 tháng 1,840 mmHg Maclakop

 

Shingleton và CS (1999) cho rằng sau phẫu thuật Phaco 1 năm, ở mắt bình thường cũng như mắt glôcôm, nhãn áp đều hạ như nhau và giá trị đo được là 2mmHg.

 

  1. Bàn luận về biến chứng trong và sau mổ Phaco:

Phẫu thuật Phaco được áp dụng đầu tiên trong việc điều trị đục thể thuỷ tinh từ năm 1967, cho đến nay nó đã được phát triển rộng khắp trên toàn thế giới và nó vẫn là một phẫu thuật lý tưởng vì cho kết quả tốt và rất ít biến chứng trong cũng như sau mổ (Bảng 7,8). Đặc biệt là tỷ lệ đục bao sau, sau phẫu thuật rất thấp (0,71%) theo dõi sau mổ 6 tháng.

Tham khảo tài liệu của các tác giả nước ngoài thì tỷ lệ đục bao sau (PCO) sau phẫu thuật phaco phối hợp đặt TTT nhân tạo Acrysof ALCON là rất thấp và xuất hiện muộn. Giogio Beltrame [1] nghiên cứu trên 4785 bệnh nhân mổ phaco đặt Acrysof với thời gian theo dõi 3 năm cho thấy tỷ lệ đục bao sau gặp 10,5% và tỷ lệ đục bao sau cần mở bằng laser yag là 2,47%, hơn nữa thời gian xuất hiện đục bao sau là muộn: 18,15±4,01 tháng. Còn theo Ursell và Cs [8] thì tỷ lệ đục bao sau sau 02 năm của nhóm đặt PMMA là 43,65%, Silicone 33,5%, Acrysof 11,75%. Theo Prin Rojanapongpun, MD báo cáo tại hội nghị Vietract VN, 2000, tại thành phố Hồ Chí Minh thì tỷ lệ đục bao sau sau 1 tháng với TTT nhân tạo Acrysof là 0,10% sau 3 tháng là 0,11% và sau 12 tháng là 0,04%. Theo William Soscia báo cáo tại hội nghị khoa học tại ASCRS, 2001, ông nghiên cứu trên 20 mắt mổ phaco phối hợp đạt Acrysof với thời gian theo dõi 6 tháng thì tỷ lệ đục bao sau là 0,16%. Abhay Vasavada [10] nghiên cứu trên 141 mắt mổ phaco phối hợp đạt Acrysof với thời gian theo dõi 1 năm thì tỷ lệ đục bao sau là: 0,0%.

 

KẾT LUẬN

Phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh là một phẫu thuật lý tưởng vì cho kết quả cao về thị lực, thị lực phục hồi nhanh và ổn định sớm sau phẫu thuật.

Độ loạn thị phát sinh do phẫu thuật ít, tỷ lệ biến chứng trong và sau mổ ít. Đặc biệt nó còn có tác dụng hạ thấp nhãn áp một cách đáng kể trên những mắt người già thường có giảm lưu thông thuỷ dịch.

Tuy nhiên phẫu thuật viên cần phải chỉ định đúng đắn và hợp lý các kỹ thuật xử lý nhân cho từng trường hợp cụ thể và luôn luôn thận trọng trong mọi thì phẫu thuật.

 

KHÚC THỊ NHỤN

Bệnh viện ĐK Việt Tiệp, Hải Phòng

TÔN THỊ KIM THANH

Bệnh viện Mắt  Trung ương

                                                                                          HOÀNG THỊ PHÚC

Bộ môn mắt, Trường ĐH Y Hà Nội

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1.  Thông tin y khoa: Chất lượng và hình dáng IOL quyết định đến hiện tượng đục bao sau. Michela Cimberle. Theo nghiên cứu của Giorgio Beltrame, MD. Đăng trên tạp chí Ocular surgery news. Vol, 19, No.17. September 1, 2001, 32. Biên dịch: Nguyễn Văn Mích. Y học thực hành 2001, 12: 50-52
  2. TRẦN THỊ PHƯƠNG THU: Lượng giá phẫu thuật Phaco “Stop, chop, chop and stuff” trên bệnh nhân đục thể thuỷ tinh nhân cứng. Y học thực hành 7/2001. 57-60.
  3. DOUENNE J.L.: Implant sonples et astigmatisme postopératoire. Vision internationles. N071 Decembre, 1996, 38-40.
  4.  GALAND.: L’opération de la cataracte en cas de glaucome primitif à angle ouvert. Bull soc.belge ophtalmol, rapport, 2000, 37-44.
  5. LEBUISON D. A. L. LAROCHE.: Les incisions courtes, la cataracte. Masson chiruagie de Paris, 1996, 1953-171
  6.  MANNES K., ZEYEN T.: Reduction in Iop after clear corneal phacoemulsification in normal patients. Bull soc belge ophthalmol 2001, 282, 19-23.
  7.  ROJANAPONGPUN PRIN, MD.: Phaco and foldable IOL, Why and what are the differences. Hội nghị Vietract VN, tháng 11 năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  8.  URSELl và CS.: Relationship between IOL biomateriels and posterio capsule opacification. J. Cataract Refract Surg 1998; 24: 352-60.
  9.  VASAVADA ABHAY, DESAI JP.: Stop, chop, chop, and stuff. J. Cataract Refract Surg 1996,22: 526-529.
  10.  VASAVADA ABHAY: Posterior capsular opasification (PCO). Prevention management. Hội nghị Vietract VN – 2000 – Hồ Chí Minh .

Leave a Reply