TC NKVN số 3 năm 2005

Hiệu quả của phương pháp cắt mộng đơn thuần phối hợp áp MMC trong điều trị mộng nguyên phát.
Mục đích: Đánh giá kết quả của phương pháp cắt mộng đơn thuần phối hợp áp MMC trong điều trị mộng nguyên phát. Đối tượng và phương pháp: 110 mắt của 106 bệnh nhân bị mộng nguyên phát được chia thành hai nhóm: Nhóm 1: phẫu thuật cắt mộng đơn thuần áp MMC 0,04% x 3 phút cho 56 mắt (54 bệnh nhân) và nhóm 2: phẫu thuật cắt mộng đơn thuần cho 54 mắt (52 bệnh nhân).Cả 2 nhóm đều là mộng nguyên phát. Bệnh nhân được theo dõi và đánh giá kết quả sau phẫu thuật 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm. Kết quả: Thị lực lúc ra viện có 85 mắt (77,27%) thị lực > 3/10. Qua các thời điểm theo dõi thị lực của bệnh nhân nhóm cắt mộng có áp MMC ổn định và tăng. Thời gian biểu mô hoá của giác mạc ở nhóm 1: trong vòng 3 – 7 ngày 54 mắt (96,42%), 2 mắt (3,57%) trong vòng 7-10 ngày; nhóm 2: trong vòng 3-7 ngày 54 mắt (100%). Tỉ lệ tái phát ở nhóm 1 là 4 %; nhóm theo dõi lâu dài 1,85%. Tỉ lệ tái phát ở nhóm 2 là 17,4%. Biến chứng trong và sau phẫu thuật không gặp Kết luận: Phẫu thuật cắt mộng đơn thuần phối hợp áp MMC trong điều trị mộng nguyên phát là phương pháp đơn giản, hiệu quả có thể được lựa chọn để điều trị mộng nguyên phát.
Một số rối loạn vận nhãn cơ chéo và kết quả điều trị phẫu thuật
150 bệnh nhân từ 4 tuổi trở lên bị lác mắt kèm theo rối loạn vận nhãn cơ chéo được nghiên cứu tại Bệnh viện Mắt trung ương từ tháng 3 năm 1998 đến tháng 8 năm 2001 về đặc điểm và hình thái lâm sàng, về kết quả phẫu thuật đối với từng hình thái lâm sàng. Thời gian theo dõi và đánh giá sau phẫu thuật trong 2 năm được chia thành 3 thời kỳ: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tác giả đã sử dụng nhiều phương pháp phẫu thuật, trong đó có một số phương pháp mới được ứng dụng tại Việt nam. Nhìn chung các kết quả phẫu thuật đạt được khá tốt tương tự như nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới. Qua công trình nghiên cứu, tác giả đã đưa ra được các chỉ định phẫu thuật thích hợp cho từng hình thái lâm sàng của rối loạn vận nhãn cơ chéo.
Kết quả đặt thể thuỷ tinh nhân tạo trên mắt đục thể thuỷ tinh do vết thương xuyên có dị vật nội nhãn
Mục đích: Xác định kỹ thuật và thời điểm đặt TTTNT trên mắt đục TTT do VTX có DVNN Đối tượng và phương pháp: 33 mắt bị đục TTT do VTX có DVNN. Lấy dị vật bằng nam châm có 24 mắt, lấy dị vật bằng panh gắp có 9 mắt. Đặt TTTNT hậu phòng trong túi bao hoặc khe thể mi: 28 mắt. Đặt TTTNT hậu phòng bằng cố định càng vào củng mạc: 5 mắt. Đặt TTTNT ‘thì một’ có 22 mắt trong đó có 18 mắt vừa lấy TTT và DVNN phối hợp đặt TTTNT trong một lần phẫu thuật. Đặt TTTNT ‘thì hai’: 11 mắt Kết quả: 4 mắt (9,76%) bị chấn thương mìn dị vật nằm rải rác giác mạc, mống mắt và tiền phòng; 11 mắt (24,39%) dị vật nằm ở TTT; 14 mắt (34,15%) dị vật ở dịch kính; 2 mắt (7,31 %) ở võng mạc. Dị vật kim loại có 28 mắt (84,85%), dị vật không kim loại có 5 mắt (15,15%) Nhiễm sắt chiếm 24,24% (6/33);.Thị lực sau phẫu thuật dưới 0,10 có 4 mắt (12,12%), thị lực từ 0,2 – 0,4 có 11mắt (33,33%) và trên 0,5 có 17 mắt (57,57%). Biến chứng lệch TTTNT 6 (18,18%), Viêm màng bồ đào 11mắt (33,33%) Đục bao sau 11mắt (33,33%). Viêm phù dịch kính 1mắt (3,03%) Xuất huyết dịch kính 1 mắt(3,03%) Kết luận: Khi có DVNN và TTT đục nên lấy dị vật và TTT phối hợp đặt TTTNT trong cùng một lần phẫu thuật. Khi TTT chưa đục và dị vật nằm khu trú ở phần sau thì chỉ nên lấy dị vật. Kỹ thuật lấy TTT ngoài bao hoặc làm nhuyễn TTT bằng siêu âm phối hợp đặt TTTNT là tốt nhất.
Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và kết quả điều trị nhược thị do viễn thị ở trẻ em
Nghiên cứu được tiến hành trên 105 trẻ, gồm 150 mắt nhược thị do viễn thị được phát hiện và điều trị tại Khoa Mắt trẻ em – Bệnh viện Mắt TW trong thời gian từ 2002-2003. Bệnh nhân đến khám khá muộn với độ tuổi trung bình 8,6 tuổi, chỉ có 6,7% trường hợp có độ viễn dưới 2D, còn 25,3% trường hợp có độ viễn thị từ +2,25D đến +5D, có tới 68,0% viễn thị cao trên +5D. Mức độ nhược thị là tương đối trầm trọng tới 60,0% thị lực dưới 5/10, trong đó có 12,7% thị dưới 1/10. Mặc dù bệnh nhân khá lớn tuổi, độ viễn thị cao, thị lực ban đầu kém nhưng kết quả điều trị rất khả quan với thị lực trên 5/10 là 95,4% trong đó 79% trường hợp đạt thị lực 8/10 trở lên. Phân tích các tham số đo được cho thấy không có sự liên quan với tuổi và độ viễn thị. Độ viễn thị có liên quan với thị lực từ khi chỉnh kính ở mắt nhược thị. Lác điều tiết gặp nhiều hơn ở mắt viễn thị cao trên 5D. Như vậy: yếu tố tiên lượng kết quả điều trị không phụ thuộc vào tuổi, mức độ viễn thị, hình thái viễn thị. Việc điều chính kính đúng thích hợp và đủ số, bệnh nhân phải đeo kính thường xuyên, thực hiện đúng điều trị duy trì và theo dõi lâu dài sau điều trị. Với sự phối hợp chặt chẽ của gia đình là cần thiết để việc điều trị có kết quả tốt và lâu dài.
Mổ mộng ghép kết mạc vùng rìa tự thân và trượt chuyển vạt kết mạc vùng rìa, kết quả bước đầu qua 44 trường hợp
Nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò của vạt kết mạc vùng rìa tự thân trong phẫu thuật điều trị mộng thịt nguyên phát và tái phát. Vạt kết mạc vùng rìa trượt chuyển được thực hiện ở 11 mộng, kết mạc vùng rìa ghép mảnh rời ở 48 mộng (tổng số 59 mộng ở 50 mắt của 44 bệnh nhân). Thời gian theo dõi sau mổ từ 6 tháng đến 25 tháng, trung bình 9 tháng). Tỷ lệ tái phát chung của cả hai kỹ thuật là 11,36% (trượt chuyển vạt kết mạc vùng rìa 27,26%, ghép kết mạc vùng rìa 8,33%). Qua bàn luận cho thấy vai trò quyết định trong việc phòng chống tái phát mộng thịt là ở chỗ mảnh ghép kết mạc vùng rìa có giá trị như một hàng rào ngăn cản sự xâm nhập của kết mạc vào vùng bóc mộng trên giác mạc.
kết quả lâu dài phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh (139 mắt) bằng siêu âm phối hợp đặt thể thuỷ tinh nhân tạo qua đường rạch giác mạc bậc thang phía thái dương tại Hải Phòng
Chúng tôi thông báo kết quả lâu dài của 139 mắt mổ đục thể thuỷ tinh bằng phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh tại Hải Phòng từ tháng 11/2001 đến tháng 3/2003 với thời gian theo dõi sau mổ 6 tháng. Kết quả: 1. Thị lực: sau mổ 1 tuần chưa chỉnh kính là 0,67 ± 0,19, trong đó thị lực ≥ 5/10 chiếm 87,76%. Thị lực sau mổ 6 tháng chưa chỉnh kính là 0,8 ± 0,16, trong đó thị lực ≥ 5/10 chiếm 96,75%. 2. Loạn thị: Loạn thị giác mạc do PT (K2) là thấp và ổn định sớm. K2 sau mổ 1 tuần là 0,789dp, 6 tháng là 0,473dp. 3. Nhãn áp: sau phẫu thuật tán nhuyễn thể thuỷ tinh, nhãn áp hạ thấp một cách đáng kể so với trước mổ, sau mổ 1 tuần hạ 1,401mmHg, 6 tháng hạ 1,840mmHg. 4. Biến chứng trong và sau mổ: thấp, không đáng kể.
Biến chứng của phẫu thuật cắt dịch kính trong điều trị vết thương xuyên nhãn cầu
Qua nghiên cứu trên 390 mắt bị vết thương xuyên nhãn cầu từ 1997 – 2000 có chỉ định cắt dịch kính phối hợp chúng tôi thấy có những biến chứng hay gặp như sau: * Biến chứng trong lúc mổ: chảy máu nội nhãn chiếm tỉ lệ cao nhất 9,7%. Sau đó là phù giác mạc chiếm 7,4%, rách võng mạc: 4,1%, tổn thương thể thuỷ tinh: 5,7%, sót chất nhân 6,9%. * Biến chứng sớm sau phẫu thuật: xuất huyết nội nhãn 10,5%, bong võng mạc: 6,7%, viêm giác mạc khía: 9,7%, tăng nhãn áp: 5,1%, viêm màng bồ đào: 16,2%. * Biến chứng muộn sau phẫu thuật: Bong võng mạc: 6,2%, teo nhãn cầu: 12,1%, tăng nhãn áp: 3,3%, đục thể thuỷ tinh: 7,5%. Cắt dịch kính đã cải thiện tiên lượng điều trị của vết thương xuyên nhãn cầu mà với kỹ thuật kinh điển hầu như phải bó tay. Tuy nhiên kỹ thuật cắt dịch kính đòi hỏi phải có trang thiết bị hiện đại cũng như phẫu thuật viên phải được đào tạo tốt.
Điều trị đục bao sau thể thuỷ tinh bằng Laser ND : YAG tại tuyến cơ sở
Nghiên cứu ngẫu nhiên 686 mắt trong tổng số 1816 mắt đã được phẫu thuật đặt thể thuỷ tinh nhân tạo hậu phòng tại tuyến cơ sở huyện xã Quảng nam và Đà nẵng từ tháng 6/1999 đến 6/2001 . Tất cả bệnh nhân đều có thời gian sau mổ trên 2 năm. Số mắt đục bao sau (ĐBS) là 376 mắt chiếm tỉ lệ 54,8%. Số mắt cần phải điều trị bằng laser Nd: YAG là 179 mắt chiếm tỉ lệ 26,1%. ĐBS được xếp thành 4 mức độ, chỉ định laser cho ĐBS có giảm thị lực với tiên lượng tốt sau laser và được tiến hành ngay tại tuyến cơ sở. Tất cả bệnh nhân điều trị ĐBS bằng laser đều được khám lại sau 1 giờ, 1 ngày, 1 tuần, 1 tháng và 3tháng để đánh giá kết quả điều trị. Biến chứng phẫu thuật càng nhiều, tuổi bệnh nhân càng trẻ thì tỉ lệ ĐBS càng cao và độ ĐBS càng nặng.
Nhận xét đặc điểm chấn thương mắt điều trị tại khoa Mắt, Bệnh viện ĐK Thái Bình trong 3 năm (2000 – 2002)
Nghiên cứu hồi cứu trên 480 hồ sơ bệnh án chấn thương mắt (CTM) điều trị tại khoa Mắt Bệnh viện đa khoa Thái Bình trong 3 năm (2000-2002) có những đặc điểm sau: CTM chiếm 15,6% trong các BN điều trị bệnh mắt. Đa số CTM gặp ở nam giới (76,9%), chủ yếu trong độ tuổi lao động (54,4%) và học sinh (37,3%). Có 66,9% CTM do tai nạn sinh hoạt, bởi các tác nhân: cầu lông, gậy (người lớn), que nhọn, bút chọc mắt, súng cao su, cò mổ, chó cắn (trẻ em). CTM do tai nạn lao động chiếm 25,6% chủ yếu bởi các tác nhân: dây cao su, hạt thóc, lá lúa, bùn đất, rơm rạ hoặc mạt sắt, phoi tiện… Đã có 69,9% bệnh nhân (BN) đến bệnh viện trước 6h song vẫn còn 30,1% BN CTM đi khám sau 1 ngày. Chỉ có 17,7% số BN được xử lý ban đầu tại y tế cơ sở. Tổn thương đụng dập nhãn cầu là chủ yếu (43,7%). Chấn thương xuyên nhãn cầu chiếm 11,6%, chủ yếu là tổn thương của giác mạc. BN đến viện với tình trạng nặng (chỉ có 14,1% số BN đạt thị lực 7/10, 44,7% số BN chỉ còn mức TL<1/20). Mặc dù đã kết hợp các phương pháp điều trị nhưng chức năng thị giác vẫn bị ảnh hưởng nhiều (sau điều trị có 25,8% số BN thị lực thấp kém (<1/10), trong đó 20,5% số BN chỉ còn TL<1/20).
Bước đầu nghiên cứu tốc độ dòng chảy động mạch trung tâm võng mạc ở bệnh nhân glôcôm bằng siêu âm Doppler màu
Với mục đích nghiên cứu thăm dò huyết động mắt bệnh nhân glôcôm, chúng tôi đã tiến hành đo tốc độ dòng chảy động mạch trung tâm võng mạc (ĐMTTVM) bằng siêu âm doppler màu cho 132 mắt bị glôcôm của 66 bệnh nhân (33 nam, 33 nữ), tuổi từ 16 đến 80 (> 40 tuổi, chiếm 74,2%), trong đó glôcôm góc đóng 68 mắt, glôcôm góc mở 64 mắt, giai đoạn tiềm tàng 29 mắt, sơ phát 28 mắt, trầm trọng 28 mắt, gần mù và mù 25 mắt. Nhóm chứng gồm 94 mắt người bình thường. Theo kết quả nghiên cứu thu được: trên mắt bình thường tốc độ dòng chảy của ĐMTTVM ở đỉnh thì tâm thu Vs = 12,19 ± 0,80; ở cuối thì tâm trương Vd = 4,22 ± 0,46; hệ số cản Ri = 0,63 ± 0,04. Trên mắt bệnh nhân glôcôm tốc độ dòng chảy của ĐMTTVM giảm (Vs, Vd giảm; Ri tăng). Mức độ thay đổi của các chỉ số này phụ thuộc vào giai đoạn bệnh, mức độ tổn hại đĩa thị giác và thị trường. Kết quả theo dõi sự thay đổi huyết động của mắt glôcôm sau thời gian điều trị NA ổn định được 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng cho thấy sự phục hồi của các chỉ số Vs,Vd, Ri cũng tuỳ thuộc vào giai đoạn bệnh. ở giai đoạn sớm các chỉ số trên có thể trở về mức bình thường sau khi NA hạ. ở những giai đoạn muộn, tốc độ dòng chảy tuy có tăng hơn, chỉ số cản có giảm nhưng không trở về được mức bình thường. Kết quả nghiên cứu đã khẳng định vai trò của yếu tố mạch máu trong cơ chế bệnh sinh gây tổn hại thị thần kinh ở mắt bị glôcôm.

Leave a Reply