TCNKVN Số 1

Qua nghiên cứu đánh giá mức độ lồi mắt bằng thước đo độ lồi Hertel trên 31 bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện trung ương Huế, chúng tôi nhận thấy: 1. Số bệnh nhân Basedow có biểu hiện lồi mắt  3 mm chiếm tỷ lệ 40,2%. Có sự khác biệt về mức độ lồi giữa 2 mắt nhưng thường là đối xứng. 2. Lồi mắt có liên quan với yếu tố thời gian: thời gian mắc bệnh càng lâu, nguy cơ lồi mắt càng tăng. Điều trị phẫu thuật hoặc bằng iode phóng xạ có thể tác động làm nặng thêm độ lồi mắt sẵn có. Đo độ lồi mắt bằng thước đo độ lồi Hertel tỏ ra hữu ích và khách quan trong đa số trường hợp, dễ thực hiện, cần thiết trong việc phân độ lồi mắt. Do vậy, để xác định và đánh giá độ lồi mắt nên sử dụng thước đo độ lồi Hertel, ngay cả khi không thấy biểu hiện lồi mắt trên lâm sàng.
Nhân hai trường hợp bệnh ký sinh trùng ở mắt nghi do giun chỉ được phát hiện tại Bệnh viện Mắt Trung ương
Trên thế giới, tại một số vùng như Tây Phi, Nam Mỹ, Guatemala, Mexico bệnh mắt do ký sinh trùng là bệnh tương đối phổ biến, đặc biệt là bệnh mắt do giun chỉ. Bệnh có thể để lại hậu quả nặng nề như giảm thị lực, thậm chí mù loà. Các loại ký sinh trùng gây bệnh ở mắt có thể gặp là: đơn bào (Acanthamoeba, Toxoplasma), giun, sán,… ở mắt giun chỉ có thể gây sưng mi mắt, viêm kết mạc, viêm giác mạc, viêm màng bồ đào trước, viêm hắc võng mạc, vẩn đục dịch kính và teo thị thần kinh. ở nước ta, bệnh mắt do ký sinh trùng nói chung và do giun chỉ nói riêng là nhóm bệnh ít gặp. Năm 1942, tại Bệnh viện Mắt Trung ương, Giáo sư Nguyễn Xuân Nguyên đã mô tả một trường hợp ấu trùng sán dây lợn (Cysticercus cellullosae) nằm dưới võng mạc trung tâm. Sau đó, nhiều tác giả đã mô tả các trường hợp ấu trùng sán dây lợn và sán nhái (Sparganum) ở các vị trí khác nhau tại mắt. Tuy nhiên bệnh giun chỉ ở mắt thì từ trước tới nay vẫn chưa được chính thức đề cập tới. Vì vậy chúng tôi xin giới thiệu hai trường hợp bệnh mắt do ký sinh trùng nghi do giun chỉ được phát hiện đầu tiên tại Bệnh viện Mắt Trung ương
Nhận xét về sự thay đổi độ dầy giác mạc trung tâm trong bệnh glôcôm nguyên phát trước và sau phẫu thuật cắt bè
Để đánh giá sự thay đổi độ dầy giác mạc trung tâm trong bệnh glôcôm nguyên phát trước và sau phẫu thuật cắt bè, chúng tôi đã tiến hành đo độ dày giác mạc trung tâm cho 42 bệnh nhân bị glôcôm góc đóng (trong đó có 50 mắt nhãn áp cao trên 25mmHg và 31 mắt ở giai đoạn tiềm tàng), 16 bệnh nhân bị glôcôm góc mở với 26 mắt nhãn áp cao trên 25mmHg và 6 mắt glôcôm góc mở tiềm tàng. Kết quả cho thấy: – Độ dầy giác mạc trung tâm trong bệnh glôcôm góc đóng nhãn áp cao dày hơn rõ rệt so với nhóm glôcôm góc mở nhãn áp cao, glôcôm góc đóng tiềm tàng và glôcôm góc mở tiềm tàng. – Độ dày giác mạc trung tâm trong glôcôm góc đóng giảm dần sau phẫu thuật theo thời gian và trở về bình thường sau 3 tháng.(trước phẫu thuật độ dày trung bình của giác mạc trung tâm = 0,567 mm ( 0,047 mm, sau phẫu thuật 3 tháng: 0,526 mm ( 0,029 mm – Độ dày giác mạc trung tâm trong nhóm glôcôm góc mở nhãn áp cao tương đương với độ dày giác mạc trung tâm ở nhóm glôcôm tiềm tàng và nhóm người Việt Nam trưởng thành. Trước và sau phẫu thuật độ dày giác mạc trung tâm không thay đổi trong glôcôm góc mở.

Leave a Reply