Cuốn nhật ký kỳ lạ và nữ bác sĩ anh hùng !

Tuổi thơ của tôi lớn lên trong vòng tay thương yêu của ông bà, cha mẹ. Thế hệ chúng tôi thật may mắn khi không phải chứng kiến sự khốc liệt của bom đạn nhưng chúng tôi hiểu rất rõ những đau thương mất mát mà chiến tranh đem lại. Một lần lật giở những trang lược sử của Bệnh viện M¾t TW để tìm tư liệu xây dựng Phòng Truyền thống, tôi đã đọc được những dòng hồi ký hết sức xúc động về một nữ bác sĩ – liệt sĩ đã anh dũng hy sinh khi mới tròn 27 tuổi.Người chiến sĩ ấy là bác sĩ Đặng Thị Thuỳ Trâm.

Tôi sinh ra khi miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, đất nước đã thống nhất. Tuổi thơ của tôi lớn lên trong vòng tay thương yêu của ông bà, cha mẹ. Thế hệ chúng tôi thật may mắn khi không phải chứng kiến sự khốc liệt của bom đạn nhưng chúng tôi hiểu rất rõ những đau thương mất mát mà chiến tranh đem lại. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi về nhận công tác tại Bệnh viện mắt Trung ương. Một lần lật giở những trang lược sử của bệnh viện để tìm tư liệu xây dựng Phòng Truyền thống, tôi đã đọc được những dòng hồi ký hết sức xúc động về một nữ bác sĩ – liệt sĩ đã anh dũng hy sinh khi mới tròn 27 tuổi. Câu chuyện đó đã để lại vào tâm trí tôi ấn tượng sâu sắc về hình ảnh một người chiến sĩ áo trắng rất lạc quan, yêu đời, nhiệt tình trong công tác, hết lòng vì thương bệnh binh, bất chấp mọi khó khăn, gian khổ. Người chiến sĩ ấy là bác sĩ Đặng Thị Thuỳ Trâm.

Chị Thuỳ Trâm sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm ngành y. Cha chị là bác sĩ Đặng Ngọc Khuê – nguyên chủ nhiệm Khoa Ngoại Bệnh viện Xanh Pôn, mẹ chị là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm, cán bộ trường Đại học Dược Hà Nội. Chị là người con hiếu thảo, người  chỉ đảm đang trong gia đình. Ở trường, chị là người học trò thông minh, hiếu học và rất lạc quan, yêu đời. Đặc biệt chị Thuỳ Trâm có giọng hát rất hay. Khi còn học trung học ở trường Chu Văn An, hay khi đã vào Đại học Y Hà Nội, chị đã giành rất nhiều giải thưởng qua các hội diễn văn nghệ. Cuốn sổ bài hát của chị còn lưu giữ lại những bài hát mà chị yêu thích, từ Bài ca hy vọng đến Chiều Matxcơva, Cây bạch dương, Trở về Sôrentô… Trong số đó, chị thích và hay hát nhất là bài Sulicô, một bài dân ca Grudia kể về mối tình bi tráng thời chiến tranh giữa một chàng trai và cô gái có tên Sulicô. Rồi cả hai đều lên đường ra trận với lời hẹn ước sẽ trở về chốn cũ. Sau khi chiến tranh kết thúc, chàng trai quay trở về, còn cô gái thì đã mãi mãi nằm lại chiến trường… Sulicô cũng chính là tên gọi thân thương mà gia đình và bạn bè dành cho chị Thuỳ Trâm. Phải chăng đó chính là sự đồng điệu vô hình giữa hai tâm hồn thơ mộng.

Năm 1966, chị Thuỳ Trâm tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội. Sau một khoá đào tạo chuyên khoa tại Viện Mắt (tên gọi trước kia của Bệnh viện Mắt TW) chị xung phong lên đường vào tuyến lửa. Tại chiến trường B, chị được cử làm bệnh xá trưởng huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một huyện nằm sâu trong vùng địch hậu, thường xuyên bị bom đạn địch cày xới. Nhà văn Nguyên Ngọc trong tập ký sự “Con đường mòn trên biển” (NXB Hà Nội, 1994) đã kể lại lời của Đại tá Tư Thắng- người anh hùng huyền thoại của đường mòn trên biển như sau: “…Tôi muốn nói với các anh về cái bệnh xá huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đó. Các anh hiểu thế nào là cái bệnh xá huyện trong chiến tranh miền Nam hồi bấy giờ không? Riêng tôi, thật ra đến lúc đó, có dịp trôi dạt vô đó, tôi mới hiểu. Thì ra, giữa chiến tranh, ở một vùng đất quá ác liệt, thì một đơn vị bộ đội, chủ lực hay địa phương, thậm chí có khi cả du kích nữa, rồi các cơ quan chỉ huy, chỉ đạo… có thể tạm thời lánh đi đâu đó, thời gian ngắn hay dài. Nhưng một cái bệnh xá huyện thì không thể lánh đi đâu được, đơn giản chỉ vì nó là một cái bệnh xá huyện, nó phải có mặt ở đó, bất kể lúc nào, trụ bám ở đó vì thương binh, vì những người dân bị thương, cả vì bệnh nữa. Bất cứ lúc nào. Mà Đức Phổ hồi bấy giờ là một trong những huyện ác liệt nhất chiến trường khu 5. Sư đoàn không vận số 1 Mỹ quần nát ở đó, rồi lữ đoàn 196 Mỹ, sư đoàn dù 101 Mỹ, có thời gian cả bọn sư 25 Anh cả đỏ Mỹ cũng ra đó, rồi Rồng Xanh, Bạch Mã, Nam Triều Tiên, rồi sư 2, sư 22, sư 23 nguỵ, thuỷ quân lục chiến, dù nguỵ, chẳng thằng nào thiếu mặt ở đấy. B52 đầm nát một vùng bán sơn địa, ngang dọc chỉ vài chục cây số… Thế mà trên cái vùng đất ghê gớm ấy, suốt hàng chục năm trời, vẫn tồn tại, trụ bám một cái bệnh xá huyện nho nhỏ, vô danh, gan lì, bất khuất. Và người phụ trách, người chỉ huy cái bệnh xá ấy là một cô gái, một bác sĩ trẻ người Hà Nội. Năm ấy tuổi chị khoảng chưa đến 30. Tên chị là Trâm… Và chị chỉ huy cái bệnh xá ấy, trụ bám gan lì đến kỳ lạ, kỳ quặc suốt mấy năm trời trên vùng đất hẹp bị đánh nát như băm ấy…”

Sự kiên cường đến “kỳ lạ”, “kỳ quặc” mà đại tá Tư Thắng nhắc đến sẽ trở nên vô cùng dễ hiểu đối với chúng ta nếu như chúng ta được đọc bức thư đầu tiên chị gửi ra Bắc cho một người bạn. Bức thư đề ngày 23/4/1967 (3 tháng sau ngày hành quân) trong đó có đoạn viết: “Viết thư cho Niệm giữa lúc máy bay địch gào thét trên đầu. Trực thăng quạt hàng tràng đại liên. Phản lực tuôn bom điên cuồng. Mặc kệ. Chúng thừa bom đạn thì cứ vãi. Cùng lắm chỉ chết lũ cây rừng. Mình được phân công về huyện Đức Phổ. Cơ quan vừa bị oanh tạc tuần trước. Thiệt về người không lớn, nhưng bệnh xá tan hoang. Thuỳ về, vác balô đi giữa những căn nhà sập nát. Đồ đạc, dụng cụ y tế vương vãi đầy sân. Không một bóng người. Thuỳ không khóc mà lòng rớm máu. Thuỳ lang thang đi thăm từng buồng bệnh cũ. Những chiếc khay đựng xơ-ranh, dao kéo… Những giá treo áo blouse… tất cả gãy vụn. Ai có cách gì nói hết nỗi đau của Thuỳ? Nỗi đau cắn vào xương thịt, không dừng lại ở cảm giác… Thế đó! Niệm ơi, hãy tin rằng cô bạn giá của Niệm sẽ giữ mãi bản chất yêu đời, trẻ trung, dù trong lửa bom, bão đạn…” Chính “nỗi đau cắn vào xương thịt” trước bom đạn của kẻ thù và lòng lạc quan yêu đời là hai tính cách tạo nên sự kiên cường đến “kỳ lạ” ở người bác sĩ trẻ chưa đầy 30 tuổi.

Năm 1968 chị vinh dự được đứng trong hàng ngũ những chiến sĩ tiên phong của Đảng Cộng sản Việt Nam. Và rồi chưa đầy 2 năm sau sự linh cảm định mệnh đau thương trong bài hát Sulicô đã xảy ra. Ngày 19/6/1970 bệnh xá bị B52 oanh tạc dữ dội. Chị Trâm bình tĩnh chỉ huy mọi người sơ tán thương binh xuống các hầm ngầm. Sau các đợt oanh kích kéo dài hàng ngày trời, khu bệnh xá chỉ còn là một đống đổ nát. Ba ngày sau, chị dẫn một nhóm cán bộ xuống núi tìm địa điểm mới để di chuyển cơ quan. Và không may, trên đường đi cả tốp sa vào ổ phục kích của biệt kích Mỹ. Cuộc chiến không cân sức đã cướp đi người bác sĩ – chiến sĩ kiên trung. Chị đã anh dũng hy sinh khi mới 27 tuổi đời.

*

Tôi chép lại những trang lược sử này của Bệnh viện bởi hai lý do. Thứ nhất tôi muốn thắp một nén tâm nhang trước vong linh người liệt sĩ. Lý do thứ hai cũng vì một sự tình cờ tôi có đọc trên báo An ninh thủ đô số 1526 ngày 18/7/2005 có viết rằng một người lính Mỹ tên là Frederic Whittehurst đã nhặt được cuốn nhật ký của bác sĩ Thùy Trâm. Anh ta đã giữ lại mà không đốt đi như bao tài liệu chiến trường khác. Mỗi khi đọc nó anh ta đều bật khóc. Cuốn nhật ký đã thức tỉnh anh, giúp anh nhận biết được sự phi nghĩa của chiến tranh mà giới cầm quyền Mỹ đã gây ra ở Việt Nam. Sau bao năm gìn giữ như một kỷ vật thiêng liêng, cuối cùng anh đã quyết định trao trả lại kỷ vật đó cho gia đình liệt sĩ. Cuốn nhật ký đó hình như sắp được xuất bản và tôi hy vọng rằng những dòng lược sử này sẽ đem lại cho bạn đọc những hiểu biết thêm về một người nữ bác sĩ anh hùng.

Leave a Reply