Tình trạng cận thị học đường tăng, vì sao?

Theo khảo sát của Sở Y tế Hà Nội, tại 6 trường THCS trên địa bàn Thủ đô, tỷ lệ học sinh bị các tật khúc xạ về mắt lên đến 73,2%, riêng cận thị học đường là 47,5%. Một thực tế đáng lo ngại và câu hỏi đặt ra ở đây, trong khi điều kiện lớp học khang trang hơn, sự quan tâm của gia đình với trẻ em cũng tốt hơn nhưng các tật khúc xạ về mắt lại tăng nhanh hơn. Vì sao?

Thực tế trong hơn 5 năm trở lại đây, tỷ lệ các em học sinh, sinh viên mắc các tật khúc xạ về mắt đang gia tăng đến chóng mặt. Ra đường hay vào bất kỳ lớp học nào cũng dễ dàng bắt gặp những đôi mắt vô tư, trong trẻo bị những cặp kính cận dày cộp khỏa lấp. Theo khảo sát của Sở Y tế Hà Nội, tại 6 trường THCS trên địa bàn Thủ đô, tỷ lệ học sinh bị các tật khúc xạ về mắt lên đến 73,2%, riêng cận thị học đường là 47,5%. Một thực tế đáng lo ngại và câu hỏi đặt ra ở đây, trong khi điều kiện lớp học khang trang hơn, sự quan tâm của gia đình với trẻ em cũng tốt hơn nhưng các tật khúc xạ về mắt lại tăng nhanh hơn. Vì sao?

Học tập quá nặng


Theo nhận xét của nhiều chuyên gia giáo dục, chương trình học tập hiện nay là quá nặng đối với các em học sinh, đặc biệt là khối học sinh tiểu học. Các em học sinh học bán trú đã học cả ngày ở trường, tối về lại… học. Nhiều học sinh lớp 1, thức đến 22-23 giờ đêm để học bài không phải là chuyện hiếm. Giải thích về điều này, các bậc phụ huynh cùng quan điểm không muốn con em mình thua kém bạn bè ngay từ khi học “i, tờ”. Để vượt trội với bạn bè cùng trang lứa, không gì khác hơn là học và học! Việc tập trung nhìn kéo dài tạo điều kiện cho các tật khúc xạ về mắt nảy sinh. Đặc biệt đối với học sinh cấp 1 (độ tuổi từ 6-10), lứa tuổi này cơ quan thị giác chưa hoàn chỉnh vả về mặt cấu tạo và sinh lý. Vì vậy, tỷ lệ học sinh mới mắc sau một năm học ở lứa tuổi cấp 1 cao gấp 5 lần so với học sinh THPT. Chương trình học tập đã quá nặng, nhiều bậc phụ huynh lo ngại con em mình ra ngoài đường hoặc đến các khu vui chơi dễ bị bạn bè lôi kéo lại “giam” các em trong bốn bức tường nhà với các thú vui là trò chơi điện tử. Các trò chơi này đòi hỏi sự tập trung cao độ và sự điều tiết của mắt, khiến các tật khúc xạ về mắt rất dễ phát triển. Bác sĩ Vũ Thị Bích Thủy, Trưởng Khoa Mắt trẻ em, Bệnh viện mắt TW cảnh báo: Các em ngồi chơi điện tử trước màn hình vi tính, do hình ảnh di chuyển liên tục lại ngồi gần màn hình nên độ cận đã tăng lại càng tăng nhanh. Truyện tranh chữ quá nhỏ cũng làm tăng gánh nặng cho đôi mắt.
Chương trình học căng thẳng lại cộng thêm việc ít ra ngoài thiên nhiên, đôi mắt chỉ quen nhìn gần trong khoảng cách từ 2-4m là nguyên nhân chính làm các tật khúc xạ về mắt của trẻ phát triển.

Ánh sáng lớp học đã thiếu lại yếu
Các chuyên gia về mắt đều khắng định trẻ em bị cận thị do nhiều nguyên nhân nhưng có một nguyên nhân là tình trạng thiếu ánh sáng và sử dụng nguồn sáng không đúng, không bảo đảm các yêu cầu tối thiểu cung cấp cho mắt đã “góp phần” gia tăng cận thị trong lứa tuổi học sinh.
Tiến sĩ vật lý Nguyễn Văn Khải, người đã nhiều năm nghiên cứu về ánh sáng học đường đã phải thốt lên rằng, chính sự cẩu thả và vô trách nhiệm của người lớn đã làm hủy hoại đôi mắt của học sinh. Ông Khải dẫn chứng về một trường điểm của tỉnh Bắc Ninh, lắp đặt bảng chống lóa được sơn xanh rất đẹp nhưng thực tế hiệu quả không có, ngược lại bảng bị lóa nặng hơn. Ông Khải nói: Có những người không hiểu biết về quang học, về chiếu sáng lại đi lắp đặt ánh sáng cho các lớp học. Và hậu quả là tiền của Nhà nước đổ ra sông, ra biển, mắt học sinh vẫn cứ cận hoài.
Tại Hà Nội, theo khảo sát của Sở GD&ĐT tại 41 trường THPT thì có tới 37/41 trường có lớp học có độ rọi sáng không đủ tiêu chuẩn của Bộ Y tế đưa ra. Độ rọi sáng trong các lớp học dùng bóng đèn huỳnh quang đều thấp dưới 200 lux thậm chí có trường có độ rọi sáng của bóng đèn dưới 100 lux, trong khi theo quy định của Bộ Y tế về độ chiếu sáng cho phòng làm việc, thì độ rọi sáng tối thiểu cho phòng thí nghiệm, phòng học, phòng thực hành không dưới 300 lux đối với bóng đèn huỳnh quang. Ngoài độ rọi sáng kém, hệ thống đèn điện được lắp đặt quá cao, bóng đèn cũ, lại thêm lắp đặt ít, lớp học lại quá đông đã khiến ánh sáng quá thiếu so với yêu cầu. Chính thứ ánh sáng mờ mờ ảo ảo trong các lớp học như thế này đã trả lời vì sao học sinh cận thị quá nhiều.
Trẻ em bị các tật về khúc xạ về mắt tăng dần theo các năm là một thực tế đáng lo ngại. Có gia đình, từ nông thôn chuyển ra Thủ đô, con cái sau một năm học đã phải đeo kính cận. Nhẹ thì 0,5 đi-ốp, nặng là 1,75 đi-ốp, trong khi cả bố, mẹ đều không ai đeo kính. Học hành quá tải, ánh sáng lớp học thiếu và phải thừa nhận nhiều ông bố, bà mẹ không quan tâm đến việc học, tư thế ngồi học của con cũng là nguyên nhân làm trẻ cận thị ngày càng nhiều.

                                                                                        Anh Văn
*************************************************************
Bác sĩ Vũ Thị Bích Thủy, Trưởng Khoa mắt trẻ em, Bệnh viện Mắt TW: Phát hiện và cho trẻ đeo kính đúng độ cận kịp thời
PV:
 Xin BS cho biết cần phải làm gì để hạn chế tình trạng cận thị ở học sinh?
BS. Vũ Thị Bích Thủy: Để phòng ngừa cận thị, hiện nay chưa có một phương pháp nào hiệu quả hoàn toàn. Tuy nhiên, nên có một chế độ học tập và làm việc hợp lý xen kẽ với các hình thức giải trí lành mạnh, rèn luyện thể lực đều đặn. Học tập, làm việc, đọc sách đúng tư thế, đúng khoảng cách, đủ ánh sáng sẽ giúp mắt đỡ mệt mỏi. Không nên để mắt quá căng thẳng khi tiếp xúc với màn hình máy vi tính, không nên chơi điện tử lâu…
PV: Thưa BS, việc điều trị cho trẻ bị cận thị hiện nay như thế nào?
BS. Vũ Thị Bích Thủy: Phương pháp điều trị hiệu quả và rẻ tiền nhất là đeo kính gọng. Đối với trẻ em không có chỉ định mổ bằng laser excimer, trừ những trường hợp đặc biệt, chỉ người trên 18 tuổi mới áp dụng phương pháp điều trị này.
PV: Qua thực tế điều trị, BS có thể nhận thấy vai trò của các vị phụ huynh như thế nào đối với tình trạng cận thị ở học sinh?
BS. Vũ Thị Bích Thủy: Có những vị phụ huynh không hề quan tâm đến việc học tập của các em. Chỉ khi thầy cô giáo thấy sức học giảm sút, đề nghị cho đi khám mắt mới phát hiện. Khi phát hiện trẻ bị cận thị, nhiều phụ huynh nghĩ đơn giản chỉ đeo kính là đủ mà coi thường việc tái khám định kỳ. Tái khám định kỳ rất quan trọng vì trẻ đang độ tuổi lớn, nên việc khám định kỳ sẽ nhằm phát hiện và xử trí kịp thời các diễn biến tiếp theo. Tôi cũng lưu ý các bậc phụ huynh, cần phải đưa trẻ đến đúng các BS chuyên khoa mắt và phải tuân thủ đúng chỉ định của BS. Tránh trường hợp, BS chỉ định cho đeo kính nhưng về nhà có người nói không cần đeo, càng đeo mắt càng cận hơn, đó là quan niệm hết sức sai lầm.
PV: Xin cảm ơn BS!
                                                                     Anh Văn 

Leave a Reply