Đại hội Đại biểu Hội nhãn khoa Việt Nam nhiệm kỳ 2005 – 2010: TRÍ TUỆ – DÂN CHỦ VÀ TIẾP TỤC ĐỔI MỚI

Từ ngày 12 – 14/10/2005 tại Hà Nội đã diễn ra hai sự kiện quan trọng của ngành mắt Việt Nam : Đại hội Đại biểu Hội nhãn khoa Việt Nam nhiệm kỳ 2005 -2010 và Hội nghị khoa học kỹ thuật nhãn khoa toàn quốc năm 2005. Tới dự và chỉ đạo Đại hội có các đồng chí: TS. Nguyễn Thị Xuyên – Thứ trưởng Bộ Y Tế; TS. Trần Hữu Thăng – Phó Chủ tịch Tổng hội Y dược học Việt Nam và trên 200 đại biểu đại diện cho các cơ sở nhãn khoa ở 64 tỉnh , thành trên toàn quốc về tham dự.

Sau ý kiến phát biểu, chúc mừng Đại hội của TS. Nguyễn Thị Xuyên và TS. Trần Hữu Thăng, các đại biểu đã thông qua báo cáo tổng kết công tác hội nhiệm kỳ 2000 – 2005 và công tác PCML trong 5 năm qua do PGS.TS Tôn Thị Kim Thanh – Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Nhãn khoa Việt Nam, Giám đốc Bệnh viện Mắt TW trình bày.

Kết quả điều tra gần đây nhất của Bệnh viện Mắt Trung ương tại 8 tỉnh thành trong cả nước từ 2001-2002 cho thấy, tỷ lệ mù trong dân số vào khoảng 0,63%. Như vậy, ước tính hiện nay cả nước ta có gần 500.000 người bị mù hai mắt, gần 1.000.000 người bị mù một mắt. Đục thuỷ tinh thể, glôcôm và mắt hột… là những nguyên nhân chính gây mù loà.

Theo báo cáo của PGS. TS. Tôn Thị Kim Thanh, đến nay số tồn đọng mù 1-2 mắt do đục thuỷ tinh thể ở nước ta là 848.000 người. Trong khi đó, chúng ta mới mổ được cho 1/3 số này. Những trở ngại chính khiến người bệnh không đi mổ đục thuỷ tinh thể là do không biết mắt của mình có thể chữa sáng được hay không, do nhà quá nghèo không thể đến bệnh viện, do không có nhu cầu vì đã quá già, vì mắc thêm một số bệnh toàn thân khác… Đây là một thách thức lớn với toàn ngành mắt, bởi vì không những phải đạt yêu cầu về số lượng, chúng ta còn phải phấn đấu sao cho chất lượng phẫu thuật cũng phải ngày một tăng lên. Năm năm vừa qua, số ca mổ đục thuỷ tinh thể không đạt yêu cầu lên tới 1/3, nguyên nhân là do biến chứng phẫu thuật, do kỹ thuật mổ, do các bệnh khác… Tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao hơn nữa chất lượng phẫu thuật đục thuỷ tinh thể là vấn đề được đặt ra cấp thiết hơn bao giờ hết.

Tình hình mắt hột ở nước ta giảm, đó là một thuận lợi cho công tác phòng chống mù loà. Tuy nhiên, tại một số thôn bản thuộc các vùng đồng bằng, trung du Bắc bộ, một số vùng sâu các tỉnh Tây Nguyên và Nam bộ… vẫn còn tồn đọng nhiều quặm do mắt hột cũ ở người lớn tuổi. Do vậy, ngành Mắt và Bộ Y tế đặt ra mục tiêu là thanh toán bệnh mắt hột gây mù ở Việt Namvào năm 2010. Đây không phải là mục tiêu dễ dàng đạt được, bởi tỷ lệ mù do mắt hột qua điều tra mới đây lên tới 0,36% dân số! Dự án phòng chống bệnh mắt hột hai năm qua được triển khai ở một số tỉnh đã đạt được một số kết quả khả quan, trong đó quan trọng nhất là có tới 90% người dân được tuyên truyền về căn bệnh này. Năm nay, chương trình sẽ hỗ trợ để mổ cho 15.000 ca quặm, cấp thuốc điều trị mắt hột hoạt tính cho 760.000 người…

Và còn rất nhiều thách thức trước mắt về những nguyên nhân gây mù loà như thiên đầu thống (glôcôm), khô mắt do thiếu vitamin A ở trẻ, thoái hoá hoàng điểm… Và cho dù với sự nỗ lực của ngành mắt với một màng lưới chuyên khoa phát triển không ngừng về số lượng lượng cán bộ xuống tận tuyến huyện, nhưng nếu không có sự vào cuộc của bản thân người bệnh, của toàn xã hội, thì công tác phòng chống mù loà của Việt Nam sẽ không dễ dàng đạt kết quả như mong muốn.

Trong nhiều năm qua, thực hiện chiến lược y tế quốc gia “ Y tế hướng về cộng đồng” ngành mắt luôn quan tâm chú trọng xây dựng hệ thống chăm sóc mắt trên toàn quốc, tạo những thành luỹ khá vững chắc trong công tác PCML. Các cơ sở Nhãn khoa liên tục cử cán bộ nhãn khoa về giúp đỡ các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa các tranh thiết bị, thuốc men, mổ miễn phí cho người mù nghèo và chuyển giao Khoa học kỹ thuật cho cán bộ y tế tuyến dưới. Huy động nhiều nguồn lực xã hội, tranh thủ sự giúp đỡ, tài trợ của các tổ chức PCML quốc tế, của các đồng nghiệp trên thế giới, triển khai có hiệu quả các chương trình PCML. Phát triển kỹ thuật cao, quan tâm NCKH, ứng dụng nhiều thành tựu KHKT tiên tiến trong khám và điều trị bệnh cho nhân dân. Hình ảnh người thầy thuốc nhãn khoa ngày càng được nhân dân tin yêu, quý mến.

 

Tuy đã làm được nhiều điều đáng kể, nhưng PGS.TS Tôn Thị Kim Thanh cảnh báo, trong thời gian tới, tình hình bệnh tật và mù loà của dân ta sẽ dần thay đổi, chuyển từ các bệnh gây mù có thể phòng tránh được sang các loại mù không có khả năng phòng tránh như glôcôm, thoái hoá hoàng điểm tuổi già, bệnh võng mạc tiểu đường… Lúc đó, công tác phòng chống mù loà sẽ vô cùng khó khăn và tốn kém vì các căn nguyên gây mù phần lớn không phòng chữa được.

 

Nếu như những người mù loà nhất là những người mù nghèo gặp nhiều khó khăn thì những người cán bộ nhãn khoa cũng gặp những thiếu khó không kém trên trận tuyến PCML. Họ vừa tìm hướng cứu chữa, huy động các nguồn lực hỗ trợ, vừa phải không ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn, áp dụng những kỹ thuật tiên tiến trên thế giới trong khám và điều trị các bệnh về mắt trong xu hướng ngày càng có nhiều bệnh về mắt phức tạp; những con số mù loà tồn đọng sẽ tiếp nối mãi nếu như họ không nỗ lực phấn đấu. Họ vui lây với những niềm vui được thấy ánh sáng của người bệnh nhưng họ trăn trở vì chứng kiến bao số phận đang từng ngày sống trong “bóng tối” không phải vì trình độ khoa học kỹ thuật hay tay nghề mà ngay chính nhận thức cũng như kiến thức của người bệnh đối với việc bảo vệ và chăm sóc đôi mắt của mình, sẻ chia với những bệnh nhân có hoàn cảnh nghèo không đủ tiền chữa trị…

Những người bị mù, đặc biệt mù cả hai mắt thì việc phải sống và phụ thuộc nhiều vào những người xung quanh là điều tất yếu. Đây cũng đang trở thành một “gánh nặng mù loà” của xã hội phát triển cần được cộng đồng quan tâm, chung sức chia sẻ.

Tại Hội nghị, nhiều ý kiến, đề tài, kinh nghiệm ở các tỉnh thành tập trung các vấn đề: Làm thế nào để giảm tỷ lệ mù loà hơn nữa trong cộng đồng hiện nay? Nâng cao trình độ chuyên môn cho bác sỹ nhãn khoa? ứng dụng nhiều thành tựu KHKT, nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh mắt? Nâng cao hiệu quả các chương trình PCML? Sự quan tâm của các cấp chính quyền, của toàn xã hội về nguy cơ “ghánh nặng mù loà” và sự chia sẻ, gánh vác?…Từ đó các Đại biểu cũng đã thảo luận và đưa ra các giải pháp chiến ược trong công tác PCML từ nay đến năm 2010 và hướng tới thực hiện mục tiêu “Thị giác 2020: Quyền được nhìn thấy”.

Sau 2 ngày làm việc nghiêm túc, dân chủ, tập trung trí tuệ cao, các đại biểu đã bầu ra Ban chấp hành mới Hội nhãn khoa Việt Nam nhiệm kỳ 2005 – 2010 và bầu Ban thường vụ mới. GS.TS. Nguyễn Trọng Nhân tiếp tục được các đại biểu và Ban chấp hành Hội tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Nhãn khoa Việt nam.

Leave a Reply