Thành lập ngân hàng mắt ở Việt Nam: SẼ THẮP SÁNG NIỀM HY VỌNG CHO NGƯỜI BỆNH

Lượng người mù cần ghép giác mạc ở Việt Nam ngày càng tăng song nguồn giác mạc cực kỳ khan hiếm. Kỹ thuật ghép giác mạc ở nước ta ngày càng hiện đại và tỷ lệ phẫu thuật thành công cao. Tâm lí và nhận thức của một bộ phận người dân về lĩnh vực hiến ghép mô tạng cũng “cởi mở” hơn, một số người đã tình nguyện xin “hiến mắt”….Xuất phát từ bức xúc thực tiễn và kinh nghiệm nước ngoài, những thầy thuốc nhãn khoa có ý tưởng thành lập một “ngân hàng mắt” ở Việt Nam nhưng ngay cái tên gọi cũng đang dè dặt né tránh bởi luật ở ta đang giai đoạn “cân nhắc”, chưa thông!

Theo ước tính, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 300.000 người bị mù do các bệnh lý về giác mạc; mỗi năm có thêm khoảng 15.000 người bị mù có nguyên nhân liên quan đến giác mạc. Tại Bệnh viện Mắt TW, danh sách người bệnh đăng ký xin được ghép giác mạc đã lên đến hàng nghìn. Và nếu có giác mạc thay thế, với tỷ lệ phẫu thuật thành công cao như hiện nay thì  sẽ có khoảng 100.000 đến 200.000 người lại được nhìn thấy ánh sáng.

Ghép giác mạc là phẫu thuật ghép mô được tiến hành sớm nhất trong các phẫu thuật ghép. Ở Việt Nam, kỹ thuật ghép giác mạc đã được thực hiện từ những năm 50 của thế kỷ trước với các công bố của các tác giả Nguyễn Đình Cát, Nguyễn Ngọc Kính, Nguyễn Duy Hoà, Nguyễn Trọng Nhân… và cho đến nay luôn được kế tục, học hỏi nghiên cứu, tiến hành rất thành công tại Bệnh viện Mắt TW. Nhiều bệnh nhân mù đã được nhìn thấy ánh sáng nhờ kỹ thuật này. Không ít  người đã được nghe câu chuyện về người thương binh Lê Duy Ứng, người họa sỹ nổi tiếng đã vẽ chân dung Bác Hồ bằng chính máu của mình, bị mù do bệnh giác mạc, nhờ phẫu thuật ghép giác mạc đã được nhìn thấy lại màu sắc tươi đẹp của cuộc sống.

Tuy nhiên không phải ai cũng may mắn như họa sỹ Lê Duy Ứng, còn bao người mù khác do bệnh giác mạc vẫn phải sống trong bóng tối chỉ vì không có nguồn giác mạc để ghép. Như vậy, trở ngại lớn nhất cho ngành ghép mô, bộ phận cơ thể người không còn là vấn đề kỹ thuật mà do thiếu hành lang pháp lý. Chính “hàng rào” này chi phối toàn bộ quá trình từ ý thức của người dân đến vấn đề thực hiện hiến, ghép… và tình trạng thiếu nguồn cung bởi việc hiến tặng mô, tạng, giác mạc vào thời điểm này vẫn còn là hiện tượng xa lạ đối với đại bộ phận dân cư. Các bác sĩ nhãn khoa vẫn luôn trăn trở để tìm kiếm nguồn giác mạc để có thể đem lại ánh sáng cho bệnh nhân của mình.  Do vậy, việc thành lập một Ngân hàng mắt là hết sức cần thiết vì nó sẽ đem lại ánh sáng cho hàng trăm ngàn người bệnh. Hiện nay, tại Bệnh viện Mắt Trung ương, hàng năm vẫn tiến hành khoảng 30- 50 ca ghép giác mạc và nguồn giác mạc chủ yếu là từ những bệnh nhân bị chấn thương mắt phải bỏ nhãn cầu do các bệnh lý nhưng giác mạc còn tương đối tốt và từ nguồn viện trợ của nước ngoài. Tổ chức quốc tế ORBIS – một tổ chức phi chính phủ hoạt động từ thiện trên toàn cầu trong lĩnh vực nhãn khoa đang hỗ trợ Bệnh viện Mắt Trung Ương thông qua dự án “Nâng cao năng lực điều trị các bệnh  giác mạc bằng ghép giác mạc tại bệnh viện mắt trung ư­ơng”; trong đó, phần lớn dự án tập trung vào việc đào tạo, xây dựng cơ sở mà tạm gọi là “Ngân hàng mắt” nhằm góp phần giúp Việt Nam hạ thấp tỷ lệ mù loà do bệnh lý giác mạc. “Ngân hàng mắt” sẽ là mối liên kết giữa những người hiến tặng giác  mạc với những người mù cần được ghép giác mạc. “Ngân hàng mắt” có trách nhiệm thu nhận, lưu giữ, bảo quản, kiểm tra đánh giá chất lượng những giác mạc do người Việt nam hiến tặng (Giác mạc có thể được lấy từ tử thi trong vòng 6-8 giờ sau khi chết) và cung cấp giác mạc để các bác sỹ nhãn khoa ghép cho hàng trăm ngàn bệnh nhân bị mù do các nguyên nhân bệnh lý về giác mạc. Vấn đề quan trọng nhất vẫn là ý thức của người dân, nhưng muốn nâng cao nhận thức của người dân thì công tác truyền thông phải tiên phong “mở lối”, mà truyền thông lại phải dựa vào hành lang pháp lý vững chắc, tuyên truyền đúng luật, đúng mực vì đây là vấn đề xã hội nhạy cảm! Dù có người đến đề nghị được hiến tặng, nhưng các bác sĩ nhãn khoa vẫn không thể tiến hành lấy giác mạc được. Cái này thực hiện vướng mắc, bị cái kia ràng buộc, rốt cục tất cả phải tạm gác lại chờ…luật.

Một “Ngân hàng mắt” chỉ có thể hoạt động hiệu quả khi có nguồn giác mạc được  lấy từ chính trong nước chứ không đơn thuần là việc có đầy đủ nhân lực và hệ thống trang thiết bị hiện đại. Do đó làm thế nào để người dân ý thức được tầm quan trọng của việc hiến giác mạc đang là vấn đề cấp thiết mà ngành mắt nói riêng và ngành y tế nói chung đang quan tâm. Hơn nưã, giác mạc là một phần nhỏ bé trong mắt người, lại có thể tiến hành lấy ngay sau khi đã qua đời mà về mặt hình thức, cơ thể vẫn còn nguyên vẹn, không ảnh hưởng đến quan niệm, tâm lí của gia đình và người thân, vì thế việc hiến tặng giác mạc cũng như lấy, bảo quản  giác mạc cũng đơn giản hơn so với các lĩnh vực mô tạng khác.

Xây dựng một hành lang pháp lý chặt chẽ, cụ thể trong lĩnh vực hiến ghép mô tạng là rất cần thiết và không thể vội vàng, nhưng sự ra đời  kịp thời của pháp luật sẽ không chỉ mang lại ý nghĩa xã hội to lớn, mà thực sự giúp hàng trăm ngàn người bệnh có cơ hội cứu chữa và “giải phóng”, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành y tế  Việt Nam ngày càng phát triển hơn. Khát vọng ánh sáng của người bệnh và tương lai có hay không “Ngân hàng mắt” ở Việt Nam cùng tâm huyết của các thầy thuốc nhãn khoa Bệnh viện mắt TW –  là điều họ đang mong đợi từng ngày, khi mà Luật hiến ghép mô, tạng lại tiếp tục được các đại biểu quốc hội đặt lên bàn nghị sự trong kỳ họp lần này.

ANH TUẤN – ĐỖ HỒNG

Leave a Reply